BÀN VỀ VIỆC DẠY CHỮ NHO Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Posted by adminbasam on 08/10/2016

Hà Văn Thùy

8-10-2016

ha-van-thuy

Sau tham luận của PGS.TS Đoàn Lê Giang trong một hội thảo khoa học thì trên văn đàn rộ lên những ý kiến đồng tình cũng như phản đối việc dạy chữ Nho trong trường phổ thông. Đáng buồn, đó là cuộc cãi lộn vô sở cứ của những người mù sờ voi vì cả hai phe cùng không hiểu chữ Nho (hay chữ Hán) là gì! Khi một cuộc tranh luận khoa học mà người ta không xác định đúng đối tượng tranh biện thì mọi lý lẽ đưa ra đều vô nghĩa!

Muốn bàn chuyện học hay không học chữ Nho, trước hết cần phải biết chữ Nho là gì, do ai sáng tạo và được sáng tạo ra như thế nào!

1- Chữ Nho là gì?

Thứ chữ mà hơn 2000 năm là quốc ngữ ở nước ta, vốn được các cụ gọi là chữ Nho, chữ thánh hiền hay chữ Hán. Năm 1932, trong sách Hán Việt tự điển, học giả Đào Duy Anh gọi là từ Hán Việt. Nhưng trong sách Văn phạm Việt Nam in năm 1936, học giả Trần Trọng Kim lại gọi là chữ Nho: “Người Việt Nam từ xưa đến nay… có thứ tiếng để nói, có thứ chữ để viết. Chữ Nho là thứ chữ dùng để học đạo Nho, đọc sách thánh hiền.” Từ sau năm 1954, ở miền Bắc thống nhất gọi là từ Hán Việt, còn trong Nam gọi là Cổ văn.

Trong những tên gọi đó thì từ Hán Việt là sự ngộ nhận tai hại. Những người theo chủ trương này cho rằng, khi người Hán đem chữ sang dạy thì đám học trò Giao Chỉ vốn quá thông minh lại đầy tinh thần dân tộc, nên không phát âm theo thầy mà “sáng tạo ra cách đọc bằng tiếng Việt.” Chẳng hạn như thày dạy chữ “tác” thì trò đọc ra “tộ”, thầy dạy “ngộ” trò đọc là “quá”… từ đó mà tạo ra từ Hán Việt với nghĩa: chữ của Hán còn cách đọc của Việt! Thật khôi hài, một lớp học như thế chỉ có thể có ở loài tu hú!

Từ khảo cứu của mình (Lịch sử hình thành chữ viết Trung Hoa), tôi khẳng định, chữ tượng hình là do người Lạc Việt tổ tiên ta sáng tạo từ 9.000 năm trước ở văn hóa Giả Hồ, sau đó ở Tây An Sơn Tây, Cảm Tang Quảng Tây 6.000 năm trước; ở Lương Chử Chiết Giang hơn 5.000 năm trước, rồi được đưa lên An Dương tỉnh Hà Nam. Năm 1.300 TCN, khi chiếm đất An Dương của người Dương Việt, vua Bàn Canh nhà Ân chiếm chữ Giáp cốt của người Việt rồi phát triển lên. Qua thời Chu tới thời Tần tạo ra chữ Trung Hoa ngày nay.

Từ ban đầu, cho tới nhà Hán, chữ vuông được đọc theo âm Việt cổ. Bằng chứng là cuốn Thuyết văn giải tự của Hứa Thận người thời Hán soạn, là cuốn từ điển đầu tiên của Trung Quốc, ghi lại cách đọc chữ vuông theo âm Việt cổ. Sách này về sau thất truyền. Tới đời Tống được biên soạn lại nhờ gom những đoạn trích từ các sách khác. Trên cơ bản, sách vẫn ghi cách đọc âm Việt cổ nhưng nhiều chỗ có thêm cách đọc theo Đường âm. Rõ ràng là do người sau thêm vào bởi lẽ, thời Hán thì Dường âm chưa xuất hiện.

Sau thời loạn Ngũ đại thập quốc, nhiều triệu dân du mục xâm nhập Trung Quốc, làm tiếng nói biến đổi khiến người trong nước không hiểu được nhau. Vì vậy, sau khi lập quốc, nhà Đường buộc các quan khi lâm triều phải nói tiếng của kinh đô Tràng An. Tiếng nói đó được gọi là Đường âm, thứ quan thoại đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Người Trung Quốc thời Đường đa số là người Việt nên tiếng nói của dân Tràng An cũng là tiếng Việt. Như vậy có nghĩa, Đường âm là tiếng nói của người Việt ở kinh đô Tràng An Trung Quốc vào thời nhà Đường. Đường âm được đưa sang dạy ở Việt Nam. Nếu trước đó chữ vuông được đọc theo tiếng Việt thì bây giờ đọc theo Đường âm, cha ông ta gọi là chữ Nho. Sau thời Đường, nước ta giành được độc lập nên chữ Nho cùng cách đọc Đường âm được bảo tồn. Do lịch sử như vậy nên trong bài viết này, tôi xin dùng thuật ngữ chữ Nho.

Từ 5.300 năm trước, tại nước Xích Quỷ, chữ tượng hình đã được chế tác và sử dụng. Khoảng 4.300 năm trước, do nước biển dâng, kinh đô Lương Chử bị nhấn chìm, nhà nước Xích Quỷ tan rã, hơn 500 ký tự giáp cốt bị chôn vùi. Do những biến động của lịch sử, chữ tượng hình khắc trên yếm rùa, xương thú và rìu đá ở Cảm Tang cũng bị chôn vùi. Duy có bộ tộc Thủy ở Quảng Tây, trước cuộc xâm lăng của Tần, Hán đã lui vào sống trong rừng là còn giữ được chữ Lạc Việt cổ gọi là Thủy tự cùng với sách cổ gọi là Thủy thư. Chữ Thủy gần về tự dạng với Giáp cốt văn nhưng cách đọc xuôi theo ngữ pháp Việt, gọi là văn tự hóa thạch sống, được thế giới công nhận là di sản văn hóa nhân loại.

Như vậy, có đầy đủ chứng cứ để khẳng định, chữ Nho do người Lạc Việt sáng tạo để ký âm tiếng Việt. Do sự trớ trêu của lịch sử, người Việt bị mất đất, mất chữ viết dẫn đến mất lịch sử cho nên hàng nghìn năm không biết chữ Nho là sáng tạo của tổ tiên mình.

Nay nhờ tri thức mới của nhân loại, chúng ta tìm lại được cội nguồn, lịch sử, văn hóa, trong đó có chữ viết nên hoàn toàn có quyền khẳng định: chữ Nho là tài sản vô giá của dân tộc Việt.

2- Quá trình hình thành chữ Nho

Trong lịch sử, tổ tiên ta ít nhất đã sáng tạo ra ba loại chữ: chữ thắt nút, chữ Khoa đẩu và chữ hình vẽ. Trong kháng chiến chống Pháp, Giáo sư Lê Trọng Khánh từng gặp những vị trưởng tộc ở đất Quảng Nam có cả gian nhà chứa chữ thắt nút làm bằng những sợi gai nhuộm nhiều màu khác nhau rồi thắt nút, ghi lịch sử, địa lý, bói toán, cúng tế [1]. Loại chữ thứ hai nay ta gọi là chữ Khoa đẩu vì có hình như con nòng nọc. Nhưng theo ý kiến của học giả Đỗ Ngọc Thành thì tên gọi của nó là chữ Khoe đầu, theo nghĩa Nôm, nghĩa là chữ đầu to. Đó là loại chữ ghép vần kiểu ABC từng tồn tại trên đất Trung Hoa vào thời Khổng Tử. Tới thời Đường, do tiếng Việt biến âm nên Khoe đầu chuyển thành Khoa đẩu. Hiện loại chữ Khoe đầu này còn được lưu giữ nơi đồng bào Thái, Mường… Là loại ký tự mà ông Vương Duy Trinh gọi là Man mẫu tự, mới đây được tác giả Đỗ Văn Xuyền khôi phục, gọi là chữ Việt cổ.

Hướng thứ ba là chế ra chữ tượng hình. Vốn là cộng đồng có tập quán tư duy tổng hợp (chủ toàn) nên khi chế chữ, tổ tiên ta dùng trí lực thu hút cái hồn của vật thành ký hiệu tiêu biểu nhất. Trước hết là nét cách điệu của con rắn, con chim, con cá, con nai… thành những hình tượng mà khi vẽ ra, người khác nhận được. Tiến bước nữa là trừu tượng hóa:

chu-han

Rồi chữ an (安 ) là khi người nữ ở trong nhà; chữ tốt (好 ) là người nữ có con (nữ hữu tử); chữ phúc (福):một con người có áo mặc, có ruộng cày thì đó là phúc… Do kỹ lưỡng như vậy nên thời gian làm ra chữ quá lâu. Chín nghìn năm trước ta đã thấy chữ Mục, chữ Bát, chữ Hỏa, chữ Nhật khắc trên yếm rùa Giả Hồ mà sau 5000 năm, tại Cảm Tang Quảng Tây, chữ vẫn chỉ dùng cho bùa chú, bói toán!

Chữ được chế ra là để ký âm tiếng nói. Trước một thực tế là tiếng nói nhiều mà chữ làm ra thì nên chỉ những tiếng thông dụng nhất hoặc có ý nghĩa thâm thúy nhất mới được chọn ra để ký âm. Và mặc dù dùng nhiều cách khác nhau như tạo ra từ đồng âm để ký âm thêm tiếng nói thì vẫn rất nhiều tiếng không được ký âm nên không có chữ. Người ta thống kê được khoảng 30% tiếng không được ký âm. Tại lưu vực Hoàng Hà, những tiếng không có chữ dần dần mai một. Ở Nam Dương Tử, có thống kê cho thấy khoảng 20% tiếng không có chữ, chỉ được trao đổi truyền miệng trong dân gian, ngày một rơi rụng. Trên đất Việt Nam cũng có tới 30% tiếng không được ký âm mà ta quen gọi là Nôm. Để giải quyết mâu thuẫn này, cha ông ta đã từ chữ Nho sáng tạo ra chữ Nôm. Trong dân gian Việt tồn tại khái niệm “chữ” để chỉ những từ bác học, chữ Nho và “nôm”để chỉ những từ dân dã. Một số người, trong đó có tôi thường phản bác học giả Maspéro vì ông cho rằng “tiếng Việt mượn 70% từ ngôn ngữ Hán.” Nhưng khi nghĩ lại, thấy rằng ông chỉ sai khi cho đó là “ngôn ngữ Hán” còn con số 30% thống kê theo kỹ thuật ngữ âm là chính xác, đó là số lượng “chữ” trong tiếng nói Việt.

Một mặt khác, tiếng Việt cổ vốn đa âm: blời = trời; Krông = sông, rồng; tlủ = trâu… Trong khi đó, chữ tượng hình là đơn lập. Do vậy, muốn được ký âm, tiếng nói phải chuyển thành đơn âm. Kết quả là, cùng với việc phát triển của chữ tượng hình, tiếng nói cũng được đơn âm hóa. Và do đơn âm nên tiếng được bổ sung thanh điệu: thanh – thành – thánh… Tới đời Đường, tiếng Việt ở Tràng An có sáu thanh.

3– Những lý do cần gấp rút dạy chữ Nho trong trường phổ thông

Theo suy nghĩ của tôi, nhất thiết phải dạy chữ Nho cho lớp trẻ vì những lý do sau:

  1. a) Đó là chữ do tổ tiên Lạc Việt sáng tạo

 Nhân loại cho rằng, chữ viết là biểu trưng trình độ văn minh của một dân tộc. Hàng nghìn năm chúng ta phải cúi đầu câm lặng chịu nhục vì bị coi là một dân tộc mông muội không có chữ viết với 70% tiếng nói phải đi vay mượn. Chúng ta vừa mang tâm lý học nhờ, đọc mướn vừa mang mặc cảm thù ghét thứ chữ từng góp phần nô lệ hóa dân tộc.

Nay phát hiện ra, đó là chữ do tổ tiên chúng ta sáng tạo nên không những phải học mà cần học nghiêm cẩn chữ của tổ tiên.

  1. b) Dạy chữ Nho giúp trẻ có tư duy chiều sâu

Việc dạy hay không dạy chữ Nho cho học sinh còn tùy theo mục đích của giáo dục. Nếu một nền giáo dục muốn tạo ra con người chức năng để giải quyết từng công việc cụ thể thì dạy chữ Nho là thừa. Nhưng nếu muốn đào tạo con người toàn diện, biết tư duy sáng tạo thì lại là chuyện khác.

Do được sáng tạo từ tư duy hình tượng sâu sắc hàng nghìn năm nên khác mọi thứ văn tự của nhân loại chỉ là ký hiệu chuyển tải thông tin thì chữ Nho bản thân nó mang tính minh triết, hàm chứa chiều sâu triết lý, giúp người học người đọc hiểu sâu nội dung vấn đề mà con chữ đề cập. Từ đó, tư tưởng của người học Nho trở nên sâu sắc. Điều này quá nhiều chứng nghiệm trong cuộc sống.

Hiện nay, chúng ta dùng quốc ngữ vần ABC. Điều kỳ diệu là quốc ngữ đã dung nạp cả phần chữ lẫn phần Nôm của tiếng Việt. Có thể nói phần hồn của chữ Nho thoát khỏi cái vỏ vật chất vuông vức để hòa nhập vào cuộc sống. Nhưng rồi trong quá trình giao lưu va đập với cuộc đời ô trọc, nhiều chữ bị tha hóa đến siêu hồn lạc phách, đánh mất cái nghĩa nguyên sơ của nó. Lúc này, cái hồn chữ phải trở về mái nhà xưa để tìm lại hồn vía chân thực của mình. Tôi còn nhớ đã đọc ở đâu đó những lời như khắc vào đá thế này: “Chúng ta đã cho người Annam thứ chữ tiện dụng, dễ học, giúp họ bắt nhanh với đà văn minh. Nhưng rồi chắc chắn là sau này con cháu họ sẽ trách chúng làm cắt đứt mối liên hệ của họ với tổ tiên.” Phán đoán của học giả thực dân hàng trăm năm trước đã thành sự thực. Tiếng Việt đang trên đà suy đọa. Sở dĩ còn được như hôm nay là may mắn còn có lớp người muôn năm cũ, giữ được cái lề của cuốn sách đang rách. Có người nói rằng, chữ Nho là tử ngữ do đó không nên dạy tử ngữ cho học trò. Đó là sự hiểu biết ấu trĩ. Không hề là tử ngữ khi “chữ”- hồn vía của chữ ngôn ngữ – đang chiếm tới 70% tiếng nói hàng ngày. Không chỉ tồn tại mà “chữ” đang giúp các ngành khoa học sáng tạo những từ mới để hòa nhập văn minh nhân loại.

Đến hôm nay mới bàn đến chuyện dạy chữ Nho cho con em là quá muộn. Nhưng muộn còn hơn không. Không bao lâu nữa, lớp người “muôn năm cũ” còn rơi rớt chút ít nho nhe về với tổ tiên, sẽ tạo ra khoảng trống văn hóa không thể san bằng, tiếng Việt sẽ mất hồn, không thể cứu vãn được!

  1. c) Học chữ Nho giúp trẻ dễ dàng đọc tiếng Trung

Nhiều người nói rằng: “Chương trình học hiện đã quá nặng, không nên chất thêm gánh nặng lên vai các em. Học được vài nghìn chữ cũng chẳng để làm gì!” Tôi đồng ý là chương trình học quá nặng. Nhưng nếu sắp xếp lại một cách khoa học, giảm những điều vô bổ, chúng ta vẫn có đủ thời gian để dạy trẻ chữ Nho. Nói “vài nghìn chữ cũng chẳng làm gì” là không đúng với thực tế. Từ trải nghiệm của mình, tôi thấy, tôi chỉ học Trung văn ba năm phổ thông Trung học, sau đó học tiếng Nga và Anh nên bỏ luôn tiếng Trung. Nhưng khi buộc phải khảo cứu các văn bản bằng chữ Nho, tôi đã dùng phần mềm dịch và từ điển Hán Việt online để đọc. Cố nhiên, ban đầu rất vất vả nhưng sau quen dần nên đọc được những tài liệu cần. Với ông lão “cổ lai hy” già nua chậm chạp, trí nhớ mỏi mòn còn làm được thì tôi tin, các bạn trẻ, nếu có vài ba ngàn chữ Nho, sẽ không khó khi làm chủ hầu hết những văn bản tiếng Trung.

4- Học chữ Nho thì học những gì?

  1. a) Học lịch sử sáng tạo chữ Nho.

Theo tôi, không như các cụ xưa học chữ Nho, chỉ học Tử viết với chi, hồ, giả, dã… Nay học chữ Nho trước hết phải học lịch sử sáng tạo chữ Nho. Lịch sử này bắt đầu bằng việc, 40.000 năm trước, người Lạc Việt từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục. 20.000 năm trước mang rìu đá mới Hòa Bình lên mở mang giang sơn mới. Từ đó sáng tạo đồ gốm, thuần hóa cây lúa, xây dựng văn minh nông nghiệp trên đất Đông Á. 9.000 năm trước tổ tiên ta sáng tạo ký tự đầu tiên ở văn hóa Giả Hồ, sau đó ở Bán Pha, Cảm Tang. Chữ Giáp cốt được đưa lên Hà Nam. Khi chiếm đất Hà Nam của người Lạc Việt, nhà Ân nhận được Giáp cốt văn ở dạng đã trưởng thành rồi từ đó phát triển lên…

Từ khi chữ ra đời, tiếng Việt được đơn âm hóa rồi có sáu thanh. Sự chuyển hóa tiếng Việt trên đất Trung Hoa để dẫn tới Đường âm, được tổ tiên ta gọi là chữ Nho.

  1. b) Học cách tư duy của tổ tiên để sáng tạo ra chữ Nho.

Làm ra chữ Nho là việc cha ông chúng ta rút hết tâm hồn và trí lực để “trói voi bỏ rọ,” hình tượng hóa những vật và sự cùng tư tưởng để khắc lên yếm rùa, xương thú rồi sau đó đưa lên mặt giấy. Ngày nay, học chữ Nho, chúng ta dạy lớp trẻ hình dung lại cách tư duy sáng tạo của tổ tiên. Và đó là bài học vô giá về tư duy chiều sâu, con đường dẫn tới thành công trong thế giới hiện đại.

Dạy chữ Nho cho con trẻ là công việc cấp bách ngay bây giờ vì sự tồn vong của dân tộc. Không thể muộn hơn nữa, khi những người còn chút ít chữ Nho ngày càng thưa vắng. Việc này phải trở thành quốc sách, cần được bàn bạc kỹ để thực hiện sớm chừng nào tốt chừng ấy.

Sài Gòn, Thu 2016

Việt mượn Hán hay Hán mượn Việt?

Hà Văn Thùy

(Bàn lại với ông Huệ Thiên về tiếng Việt)

   Nhiều năm nay ông Huệ Thiên giữ chân chủ xị mục Chuyện Ðông chuyện Tây của tạp chí Kiến thức ngày nay. Công bằng mà nói, ông có giúp cho độc giả những phút thư giãn bổ ích khi biết thêm những điển tích, những chữ nghĩa cổ. Người đọc nhận ra rằng, ông chịu tra cứu, phần nhiều nói có sách mách có chứng. Tuy nhiên, trong một số bài viết của ông có những kiến giải chưa thỏa đáng. Những kiến giải đó xuất hiện trên tạp chí, trên nhật trình, nguyệt trình là chuyện thoảng qua nhưng khi tập hợp lại thành sách Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm [1] thì gây không ít ngộ nhận. Ðiều khiến chúng tôi băn khoăn là ông có cái nhìn thiên lệch trước một số hiện tượng tế nhị trong ngôn ngữ Việt. Chúng tôi có vài điều xin thưa lại.

Trong bài Về những địa danh “thuần Việt” thời Hùng Vương, trang 145, khi bài bác quan điểm cho rằng yếu tố “Kẻ” và những địa danh đi liền sau nó như “Mẩy”, “Cót”, “Vòng”… (thành những “Kẻ Mẩy”, “Kẻ Cót”, “Kẻ Vòng”) là những tên Nôm làm thành một “hệ thống tên xã thôn… hoàn toàn khớp với cương vực nước Văn Lang được ghi lại trong truyền thuyết dựng nước”, ông “đã chứng minh rằng ‘kẻ’ là một từ Việt gốc Hán bắt nguồn ở một từ ghi bằng chữ giới 界 mà âm Hán Việt thông dụng hiện đại là ‘giới’, âm Hán Việt hiện đại ít thông dụng hơn là ‘giái’, còn âm chính thống gọi là ‘cái’.” Và “những cái gọi là tên Nôm hoặc ‘thuần Việt’ như Mẩy, Cót, Vòng… chẳng qua chỉ là âm xưa của những chữ Hán nay đã được đọc theo âm Hán Việt hiện đại mà thôi (!)”

Ðọc những dòng trên hẳn không ít người phải than “hỡi ôi” cho tiếng Việt, cho dân tộc Việt! Một dân tộc có 70% tiếng nói vay từ tiếng Hán mà đến một vài chữ hiếm hoi tưởng như đặc sản, đặc hữu cũng là đi mượn nốt! Dù không biết ông nói đúng hay sai nhưng chí ít cũng thêm một chút đau lòng! Một dân tộc vay mượn tới chừng đó trong ngôn ngữ thì nếu có bị nô lệ cũng đáng đời!

Ðể minh chứng cho ý tưởng của mình, ông bắt đầu từ tên Mơ, một tên gọi phổ biến ở vùng Hà Nội: “Đó rõ ràng là một từ Việt gốc Hán có liên quan đến chữ/ từ ‘Mai’Ðó dứt khoát không phải là một yếu tố Nôm, thuần Việt hoặc Việt cổ và đây tất nhiên không phải là trường hợp duy nhất…”. Và ông dẫn ra hàng loạt trường hợp khác: Núc là âm xưa của Canh Nậu; Vài, của Ngọc Nhị; Gượm,của Cần Kiệm; Noi, của Cổ Nhuế; Núc, của Dị Nậu; Vòng, của Dịch Vọng; Gạch, của Ô Cách… Trong những câu tương ứng trên đây, tiếng đầu (Núc, Vài, Gượm…) là âm xưa, còn tiếng sau (Nậu, Nhị, Kiệm…) là âm nay của cùng một chữ Hán trong những địa danh hữu quan và sự tương ứng đó là hoàn toàn nhất quán trong các địa danh chỉ nhiều địa phương khác nhau, thậm chí rất xa nhau: “Núc không chỉ là Canh Nậu, Dị Nậu Hà Nội mà còn là của Dị Nâu vùng Tam Ðảo. Gạch không chỉ là Ô Cách ngoại thành Hà Nội mà còn là âm xưa của Bình Cách thuộc Ðông Quan Thái Bình…”. Từ đó ông kết luận: “Sự tương ứng nhất quán đến cao độ trên đây là một chỗ dựa chắc chắn để khẳng định rằng những cặp từ đang xét chỉ là âm xưa và âm nay của những chữ Hán hữu quan. Nếu là phiên âm thì, dù âm gốc có là một, từ địa phương này sang địa phương khác, kết quả phiên âm thế nào cũng có sai biệt, và có khi khác nhau rất xa.”

Ðể củng cố cho lập luận của mình, ông Huệ Thiên dẫn Nguyễn Tài Cẩn, nhà ngôn ngữ hàng đầu: “Hiện ta có từ ‘mơ’ là dạng cổ Hán Việt ứng với cách đọc Hán Việt ‘mai’. ‘Mai’ là kết quả của cả một quá trình diễn biến *dj>oj>aj. ‘Mơ’ là dạng vay mượn vào lúc âm cuối -j chưa xuất hiện trong tiếng Hán; theo giới Hán ngữ học, ‘mơ’ phải được vay trong khoảng 1500 trở về trước. Mà trong thời cổ đại đó thì – cũng theo sự phục nguyên của giới Hán ngữ học – từ ‘mai’ đang có vần mở là *a; vần *a này không chỉ có mặt trong thời Ðông Hán, Tây Hán mà còn lên đến tận thời Kinh Thi” ( tr.147).

Không có nhiều tri thức ngôn ngữ học lịch sử nhưng chúng tôi được biết thế này: đứa trẻ sinh ra, cha mẹ đặt tên cho nó. Mảnh đất khai phá xong thì chính người chặt cây đào gốc đặt tên cho nó bằng ngôn ngữ của mình. Sài Gòn là một tên gốc Phù Nam,Cần Thơ, Sóc Trăng là tên gốc Khmer. Những năm 1830, khi làm Ðịa bạ Nam Kỳ, nhiều quan chức triều Nguyễn đã phải cùng với hương chức vất vả phiên âm chữ Hán cho biết bao thửa ruộng cánh đồng từ lâu mang tên Nôm! Lập luận như ông Huệ Thiên thì phải chăng hàng vạn năm trước, đất Việt cổ không có tên vì chưa có chữ Hán mượn để đặt?!

Chúng tôi cũng xin mạn phép nghi ngờ ý kiến của GS Nguyễn Tài Cẩn bởi lập luận của ông dựa trên sự phục nguyên của giới Hán ngữ học. Theo logic đơn giản: phục nguyên một chữ Hán hiện đại là việc xác định gốc gác cổ xưa của nó và từ đó tìm ra mối liên hệ với những ngữ gần gũi. Vậy, việc phục nguyên ở đây sao lại đưa tới kết luận một chiều là chỉ có Việt mượn Hán chứ không phải ngược lại? Phải chăng vì nước Hán bự, người Hán đông, văn hóa Hán lớn nên chỉ cho mà không cần nhận?

Mặt khác, trong ý kiến của giáo sư Cẩn có nói: từ ‘mai’ đang có vần mở là *a; vần *a này không chỉ có mặt trong thời Ðông Hán, Tây Hán mà còn lên đến tận thời Kinh Thi. Theo thiển ý, thời Kinh Thi là một thời gian khó xác định. Nếu là ở thời điểm hình thành Kinh Thi thì chí ít là vào thời Ðế Nghiêu khoảng 5000 năm trước. Còn ở thời điểm Khổng tử san định Thi thì cách nay 2500 năm. Nhưng giả sử có chuyện vay mượn thì ai vay? Vay bằng cách nào? Muốn vay mượn tiếng nói thì phải có sự chung sống với nhau mà không thể một ông nào đó đi sứ rồi mượn tiếng về dạy!

Còn theo chúng tôi thì ngược lại, khoảng 5000 năm trước, từ ‘mơ’ tiếng Việt đã chuyển thành từ ‘mai’ tiếng Tàu! Không phải Việt mượn của Hán mà Hán mượn của Việt! Nhận định này là có cơ sở.

Nhà địa lý kiêm toán học Buckminster Fuller cho rằng, có thể tìm ra nguồn gốc các nền văn minh căn cứ vào tỷ lệ thuận giữa trình độ văn hóa, di dân và mật độ nhân số. Từ lý thuyết đó, ông lập bản đồ Dynaxion World Maps (Bản đồ động thái thế giới). Từ bản đồ của mình, B. Fuller đưa ra giả thuyết: vào thiên niên kỷ IV-III TCN, duyên hải Ðông và Ðông Nam Á chỉ chiếm 5% diện tích thế giới nhưng có tới 54% nhân loại đang sống. Dựa vào sự tính toán của ông, người ra suy ra, vào thời đó, người Việt có thể chiếm 15-20% nhân số thế giới (Vũ Hữu San. Vịnh Bắc Việt. Tripod.com). Trong công trình khảo cứu Tiếng nói và chữ viết của người Việt cổ, luật sư Cung Ðình Thanh dẫn lại lịch sử nghiên cứu tiếng Việt và đưa ra kết luận mới nhất của giới ngôn ngữ học: Vào khoảng thiên niên kỷ IV TCN, ngôn ngữ Môn-Khmer của người Việt giữ vai trò lãnh đạo vùng Ðông và Ðông Nam Á cả về xã hội cả về ngôn ngữ (Joseph Needham & Edwin George Pulleyblank trongThe Origins 1983 – Dẫn theo Cung Ðình Thanh. Dactrung.net.)

Trong khi đó người Hán nói ngôn ngữ Sino-Tibétan chỉ là nhóm thiểu số sống du mục trên vùng đồng cỏ Thiểm Tây, Cam Túc. Khoảng 2500 TCN, người Hán vượt sông Hoàng Hà chiếm đất của người Việt. Một bộ phận Bách Việt chạy xuống phía Nam tụ lại ở vùng Ngũ Lĩnh. Phần lớn (khoảng 70%) người Bách Việt ở lại sống cùng quân chiếm đóng. Người Bách Việt do số dân đông áp đảo và văn hóa cao đã đồng hóa kẻ xâm lược cả về huyết thống cả về văn hóa. Cùng với việc tiếp nhận Kinh Thi, Kinh Dịch của người Việt, người Hán đã tiếp thu tiếng Việt vào trong vốn từ vựng của mình. Chính lúc này mơ của Việt chuyển thành mai của Tàu. Bao tiếng khác cũng được chuyển hóa như vậy làm phong phú vốn từ vựng Trung Hoa.

Bị người Hán đuổi tiếp, người Việt từ Ngũ Lĩnh trở về Việt Nam góp phần xây dựng nước Văn Lang. Chính những người Việt trở lại mái nhà xưa này đã mang về những yếu tố ngôn ngữ từng để lại bên sông Hoàng Hà: cả từ vựng, cả những địa danh. Ðiều này cắt nghĩa vì sao bên ta có nhiều địa danh giống bên Tàu. Chính là do ông bà ta đặt cho vùng đất mình mới khai phá những cái tên thân thuộc phải bỏ lại ở phía Bắc. Ðó cũng chính là điều trả lời cho thắc mắc của ông Huệ Thiên vì sao có sự phiên âm thống nhất một số địa danh trên địa bàn rộng.

Trong cuốn sách của mình, tác giả Huệ Thiên còn nhiều bài viết: Chung quanh từ nguyên của từ “gạo”; Chữ “vằn” liền với chữ “văn” một vần; Những bài về tên các con giáp trong thập nhị chi… Ở đó, cũng theo cách tư duy trên, ông có vẻ hào hứng cho tất cả là Hán, là của Tàu, là “trăm phần trăm made in China”! Không có điều kiện bàn từng trường hợp cụ thể, chúng tôi chỉ xin nói rằng, ông đã quá tin vào sách Tàu nên sai lạc, trái ngược với thực tế lịch sử diễn ra từ bờ sông Hoàng Hà đến sông Hồng sông Mã.

Thực tế lịch sử này từ lâu bị khuất lấp, và chúng ta được dạy rằng: Người Việt là đám Tàu lai bị người Tàu xua đuổi trôi dạt xuống, tiêu diệt người bản địa, lập nên nước Việt. Văn hóa Việt là thứ văn hóa Tàu dần dần được bản địa hóa! Chúng ta cứ hồn nhiên tin thế cho tới 30 năm trước mới có một người Việt là học giả Kim Ðịnh dám nghi ngờ tín điều trên, đòi lại Kinh Thi, Kinh Dịch, Kinh Thư… cho người Việt. Tiếp đó là nhiều học giả khác như GS Lê Văn Sửu với Nguyên lý thời sinh học cổ Ðông phương và Học thuyết âm dương ngũ hành, GS Bùi Văn Nguyên với Kinh Dịch Phục Hy rồi Nguyễn Tiến Lãng với Kinh Dịch – sản phẩm sáng tạo của người Việt… cùng chung ý hướng trên.

Sự hồn nhiên của tác giả Huệ Thiên chẳng những dội gáo nước lạnh vào tâm huyết của những người cố công quẫy đạp ngược thời gian tìm lại cội nguồn mà còn gây ngộ nhận cho người đọc, nhất là bạn trẻ, những người có lúc thích thú theo dõi chuyện Ðông chuyện Tây của ông.

Nói rằng ngôn ngữ Hán đã mượn nhiều từ vựng tiếng Việt không phải chuyện hoang tưởng mà là dựa vào tiến trình lịch sử dài lâu của người Việt. Chí ít, người Việt đã sống 30.000 năm từ lưu vực sông Hoàng Hà tới sông Dương tử. Một ngôn ngữ lớn từng giữ vai trò lãnh đạo cộng đồng Bách Việt đông đảo chiếm đến 20% nhân loại bỗng dưng biến mất không để lại dấu tích gì sao? Rõ ràng là, cùng với sự tiếp thu nền văn minh nông nghiệp lúa nước của người Việt, người Hán đã học nhiều tiếng Việt từ cộng đồng lê dân Miêu tộc đông đảo. Tiếng Việt từ trước thời Hoàng đế đã được ghi bằng chữ Hỏa tự, chữ Khoa đẩu. Loại chữ này đã viết nên Kinh Thư được giấu trong vách nhà của Khổng tử. Khi phát minh ra chữ vuông, người Hán đã dùng chữ vuông ký tự những chữ Việt đó rồi đương nhiên coi là tiếng Hán, chữ Hán. Người Việt không giữ được đất đai, không giữ đựơc chữ hình ngọn lửa nên để mất luôn chữ viết của mình! Tiếp thu vốn từ vựng của người Việt nhưng vì giữ vai trò lãnh đạo xã hội nên người Hán ép buộc ngườI Việt nói theo cách nói của người Hán. Như vậy, cùng với việc người Việt hòa tan vào cộng đồng Hán tộc thì tiếng Việt cũng nhập vào ngôn ngữ Hán, trong một cơ cấu ngữ pháp mới. Sau này các tác giả tự điển, các công trình phục nguyên Hán ngữ không có điều kiện tìm đến gốc gác xa xưa hơn của những từ mà họ tra cứu. Ðã từng xảy ra câu chuyện thế này: Vào những năm 70 thế kỷ trước, để chứng minh cho sự độc lập của Ðài Loan với Hoa Lục, chính quyền Tưởng Giới Thạch lệnh cho nghiên cứu lịch sử hòn đảo này. Nhưng khi thấy trước thời Khổng tử, đất này của người Bách Việt, việc nghiên cứu bị dừng lại! Nhưng dù che giấu kỹ thế nào, ta vẫn có thể tìm thấy trong Hán ngữ những từ thuần Việt như Nữ Oa, Thần Nông, Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn, Ðế Cốc… Và trong Kinh Thi cũng bắt gặp khá nhiều trường hợp in dấu ấn cách nói của người Việt như:

Hồ vi trung lộ (Thức vi: trong sương)

Trung tâm rạng rạng (Nhị tử thừa chu: trong lòng áy náy)

Trung tâm hữu vi (Cốc phong: trong lòng băn khoăn )

Di vu trung cốc (Cát đàm: trong hang)

Tại sao hàng nghìn năm thực hiện nghiêm cẩn xa đồng quỹ thư đồng văn mà trong quyển kinh quan trọng bậc nhất của văn hóa Trung Hoa vẫn giữ cách nói của người Việt trung lộ, trung tâm, trung cốc… mà không chuyển sang cách nói của người Hán lộ trung, tâm trung, cốc trung…? Ðấy chính là những hóa thạch ngôn ngữ mách bảo cho người biết nghe những điều thầm kín: những câu ca của người Miêu Việt!

Thiết tưởng, ông Huệ Thiên với sở học sở đọc của mình, nếu không hồn nhiên tận tín những sách của thày Tàu mà tìm đọc giữa những hàng chữ Hán có thể sẽ cống hiến những phát hiện quý giá.

© 2005 talawas

[1]Nhà xuất bản Trẻ, 2004

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s